Việt Nam đang từng bước biến rừng thành “bể chứa carbon tự nhiên”, góp phần hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Việt Nam đang từng bước biến rừng thành “bể chứa carbon tự nhiên” (Ảnh là nhân viên Công ty Lâm nghiệp Quy Nhơn cắt tỉa cây).
Tuy nhiên, rừng chỉ có thể trở thành “bể chứa carbon” khi được quản lý đúng cách. Những cánh rừng trồng luân canh ngắn ngày chủ yếu phục vụ sản xuất dăm gỗ thường không tích lũy được nhiều sinh khối, chu kỳ hấp thụ carbon ngắn, khó tạo ra tín chỉ carbon có giá trị cao.
Ngược lại, mô hình rừng gỗ lớn, được duy trì trong chu kỳ dài, trồng các loài cây bản địa có giá trị và kết hợp kỹ thuật lâm sinh tiên tiến, lại có khả năng lưu trữ lượng carbon lớn, lâu dài và bền vững.
Từ thực tế đó, Dự án “Nhân rộng quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại Việt Nam” (SFM), hợp tác giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức, được triển khai tại ba tỉnh Gia Lai, Quảng Trị và Đắk Lắk trong giai đoạn 2022 – 2025, đang mang lại những thay đổi căn bản trong tư duy và cách thức phát triển rừng.
Tại Gia Lai – nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi và là một trong những “thủ phủ” chế biến gỗ lớn nhất cả nước, hai công ty lâm nghiệp Sông Kôn và Quy Nhơn đã tiên phong áp dụng mô hình rừng trồng chu kỳ dài theo hướng sản xuất gỗ lớn chất lượng cao.
Ông Hồ Văn Hể – Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn – chia sẻ: “Trồng rừng gỗ lớn là bước đi chiến lược. Chúng tôi không chỉ hướng đến nâng cao giá trị rừng, mà còn mong muốn tham gia thị trường tín chỉ carbon để đa dạng hóa thu nhập và khuyến khích cộng đồng cùng gìn giữ rừng lâu dài”.
Các mô hình trình diễn 48ha ban đầu đã được mở rộng lên 1.685ha rừng gỗ lớn, với các loài cây như keo, lim xanh và các loài bản địa có khả năng sinh trưởng mạnh, chống chịu thời tiết tốt và tích lũy carbon hiệu quả.

Bà Carina van Weelden, Quản lý thực hiện dự án, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) và cán bộ chuyên trách kiểm tra rừng trồng băng drone.
Cơ hội kinh tế mới từ tài nguyên rừng
Không chỉ mang lại lợi ích môi trường, tín chỉ carbon đang mở ra một cơ hội kinh tế mới cho các chủ rừng và cộng đồng địa phương. Với mỗi tấn CO₂ được hấp thụ, chủ rừng có thể tạo ra một tín chỉ carbon và bán cho các tổ chức, doanh nghiệp cần bù đắp phát thải.
Trên thị trường tự nguyện, giá trị mỗi tín chỉ dao động từ 5 – 50 USD tùy loại hình và tiêu chuẩn, và đang có xu hướng tăng mạnh theo cam kết khí hậu toàn cầu.
Ông Nguyễn Văn Hoan – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai – nhìn nhận: “Tín chỉ carbon là hướng đi mới để gắn giá trị kinh tế với tài nguyên rừng. Gia Lai có lợi thế về diện tích và năng lực sản xuất gỗ lớn, nếu được hỗ trợ tốt về thể chế, công nghệ và tiếp cận thị trường, hoàn toàn có thể trở thành trung tâm phát triển tín chỉ carbon lâm nghiệp của khu vực”.
Đặc biệt, từ việc nhận khoán đơn lẻ, người dân nay được tham gia vào quá trình đồng quản lý rừng, được tập huấn kỹ thuật, pháp lý và kỹ năng đàm phán để hiểu rõ quyền lợi từ bảo vệ rừng và tín chỉ carbon.
Chị Đinh Thị Inh – người dân tộc Ba Na tại xã Vĩnh Sơn, chia sẻ chân thành: “Trước kia giữ rừng là trách nhiệm được giao, còn bây giờ là quyền lợi. Chúng tôi hiểu rằng càng giữ rừng tốt, cây phát triển mạnh, thì càng có giá trị về sau, cả về kinh tế và môi trường”.

Cán bộ của GIZ hướng dẫn tỉa cành mô hình trồng rừng mới.
Các hợp đồng mới giữa doanh nghiệp và cộng đồng được thiết lập minh bạch, công bằng, có điều khoản phân chia lợi ích từ hoạt động bảo vệ rừng, trong đó bao gồm cả thu nhập từ tín chỉ carbon. Đây là mô hình đáng chú ý, không chỉ ở khía cạnh môi trường, mà còn là một bước tiến về quản trị và chia sẻ trách nhiệm.
Việt Nam hiện đang xúc tiến xây dựng thị trường tín chỉ carbon trong nước và hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan. Trong khi chờ thị trường chính thức, những mô hình thí điểm như SFM chính là bước đệm thực tế giúp các chủ rừng làm quen với quy trình, tiêu chuẩn và cơ chế giao dịch.
Từ những cánh rừng tại Gia Lai hôm nay, nếu được nhân rộng và thể chế hóa, Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin bước vào thị trường carbon toàn cầu – không chỉ bằng nguồn tài nguyên sẵn có, mà bằng sự chuyên nghiệp, công bằng và bền vững trong cách quản lý rừng của chính mình.
Hoàng Văn Minh
Theo báo Lao Động



