HỘI NET ZERO VIỆT NAM - CHÂU Á HCM SME
VIETNAM - ASIA NET ZERO ASSOCIATION HCM SME
Kết nối - Hành động - Hiệu quả

Xây dựng hệ sinh thái Ethanol để phát triển bền vững xăng E10

Việc triển khai xăng E10 đang mở ra cơ hội hình thành ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học quy mô lớn tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều quyết định là xây dựng được một hệ sinh thái Ethanol phát triển dài hạn với vùng nguyên liệu ổn định, doanh nghiệp đủ động lực đầu tư và chính sách nhất quán trong nhiều năm tới.

Nhà máy Ethanol Dung Quất được “hồi sinh”, từng bước hoạt động trở lại

Theo ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, với quy mô tiêu thụ xăng hiện nay, khi triển khai rộng rãi xăng E10, nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn ước khoảng 90.000-100.000 m³ mỗi tháng.

Với công suất thiết kế của các nhà máy hiện có, sản xuất trong nước về lý thuyết có thể đáp ứng khoảng 45-50% nhu cầu. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, sản lượng thực tế mới chỉ đáp ứng khoảng 20%, do một số nhà máy từng phải dừng hoạt động, vận hành cầm chừng hoặc chưa được khôi phục hoàn toàn.

Một số dự án đang đứng trước cơ hội tái khởi động hoặc phục hồi sản xuất. Nhà máy Ethanol Dung Quất đã từng bước hoạt động trở lại; nhà máy Ethanol Bình Phước được kỳ vọng sẽ được phục hồi; một số dự án khác như Nhà máy Ethanol Đức Giang cũng đã được chủ đầu tư tái cơ cấu. Theo ông Tuấn, điều này cho thấy dư địa nâng cao năng lực sản xuất trong nước còn khá lớn.

Vùng nguyên liệu phải gắn chặt với nhà máy

Nếu công suất nhà máy là điều kiện cần thì vùng nguyên liệu ổn định là nền tảng để ngành ethanol có thể phát triển bền vững.

Hiện nay, ethanol tại Việt Nam chủ yếu được sản xuất từ sắn và ngô. Đây là những nguồn nguyên liệu trong nước có thể khai thác nhưng cũng chịu sự cạnh tranh từ nhiều ngành chế biến khác, đồng thời bị ảnh hưởng bởi mùa vụ, giá cả, chất lượng sản phẩm và chi phí logistics.

Theo ông Đỗ Văn Tuấn, tại nhiều quốc gia, chương trình phát triển nhiên liệu sinh học trước hết được xây dựng để tạo đầu ra cho nông nghiệp. Mỹ sản xuất ethanol từ ngô, Brazil dựa vào cây mía; Thái Lan, Philippines và Ấn Độ cũng gắn nhiên liệu sinh học với những vùng nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn.

Đối với Việt Nam, mục tiêu lâu dài của chương trình nhiên liệu sinh học cũng phải hướng đến tạo đầu ra ổn định cho nông sản, nâng cao giá trị cây trồng và hỗ trợ chuyển đổi những khu vực sản xuất kém hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình phát triển vùng nguyên liệu phải được tính toán thận trọng, tránh mở rộng diện tích theo phong trào.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, khi một loại cây trồng được giá, người dân thường nhanh chóng mở rộng diện tích. Khi nguồn cung tăng mạnh, giá lại giảm sâu, dẫn đến tình trạng được mùa nhưng khó tiêu thụ. Nếu vùng nguyên liệu ethanol cũng phát triển tự phát, không có hợp đồng thu mua và không gắn với nhu cầu của nhà máy thì nguy cơ dư thừa hoàn toàn có thể xảy ra.

Vì vậy, điều quan trọng nhất là hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp sản xuất ethanol và người trồng nguyên liệu. Nhà máy cần chủ động xây dựng vùng cung ứng, ký kết hợp đồng thu mua, hỗ trợ tổ chức sản xuất và tạo đầu ra ổn định. Người dân vẫn canh tác trên đất của mình nhưng tham gia chuỗi liên kết, thay vì tự phát mở rộng diện tích dựa vào những tín hiệu giá ngắn hạn.

Sắn là một trong những nguồn nguyên liệu chính cho sản xuất ethanol 

Mô hình của ngành mía đường được đánh giá là một kinh nghiệm đáng tham khảo. Một số doanh nghiệp đã xây dựng được chuỗi liên kết giữa nhà máy và vùng nguyên liệu, trong đó nhà máy cam kết thu mua sản phẩm, còn người dân được tổ chức sản xuất theo quy trình và kế hoạch cụ thể. Nếu áp dụng tốt mô hình này, các nhà máy ethanol có thể chủ động được nguyên liệu, trong khi người nông dân có thị trường tiêu thụ ổn định.

Việc lựa chọn địa điểm đầu tư nhà máy cũng phải gắn với điều kiện nguyên liệu và hạ tầng logistics. Một dự án ở xa vùng trồng, xa hệ thống kho xăng dầu hoặc cảng biển sẽ phải chịu chi phí vận chuyển lớn, làm giảm hiệu quả đầu tư.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, đây là một trong những nguyên nhân khiến khả năng phục hồi của các dự án không giống nhau. Những địa phương có vùng nguyên liệu tập trung, giao thông thuận lợi và gần thị trường tiêu thụ sẽ có lợi thế rõ rệt hơn so với những khu vực đất đai manh mún, phân tán.

Do đó, phát triển vùng nguyên liệu cần sự phối hợp của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chính quyền địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp. Việc mở rộng diện tích phải bám sát nhu cầu tiêu thụ, ưu tiên chuyển đổi những cây trồng kém hiệu quả, tránh thay thế những cây đang mang lại thu nhập cao và không đánh đổi môi trường để lấy sản lượng.

Picture of Yên Chi

Yên Chi